Bí tích giải tội là gì?
I- TỘI
1- Tội là gì? Là xúc phạm đến Chúa, do cố ý lỗi phạm luật Chúa hay luật Hội Thánh, trong tư tưởng, lời nói, hành động, hoặc bỏ qua những việc phải làm.
2- Thế nào là tội trọng và tội nhẹ? Tội trọng khi có đủ ba yếu tố: - Cố tình lỗi phạm. - Một điều luật nặng (cấm hoặc buộc nặng). - Đã kịp suy biết rõ ràng. Thiếu một trong ba điều đó, chỉ là tội nhẹ.
3- Dịp tội là gì? Là những cơ hội, do người, nơi chốn, vật hoặc hoàn cảnh nào đó dễ cám dỗ ta phạm tội.
4- Làm thế nào để xa lánh tội lỗi? Phải cầu nguyện, quyết tâm chừa bỏ, đồng thời cố gắng tập những nhân đức ngược lại.
II- BÍ TÍCH GIẢI TỘI
5- Bí tích giải tội là gì? Là Bí tích Chúa Giêsu đã lập để tha tội ta phạm, từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội về sau cùng giao hòa ta với Chúa và Hội Thánh.
6- Chúa Giêsu đã lập Bí tích Giải tội khi nào? Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra, thổi hơi trên các tông đồ và phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 22-23).
7- Ai có quyền tha tội? Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội, nhưng Người đã trao quyền ấy cho Hội Thánh (qua các tông đồ và các đấng kế vị). Vì thế, các Giám mục và Linh mục nào được phép mới có quyền ban Bí tích Giải tội; bởi vậy, khi ta xưng tội với các ngài chính là xưng tội với Chúa qua Hội Thánh.
8- Ai cần lãnh Bí tích Giải tội? Những tín hữu đã phạm tội trọng thì cần phải lãnh nhận Bí tích Giải tội, nhưng ai chỉ mắc tội nhẹ mà lãnh nhận Bí tích này thì được nhiều ích lợi thiêng liêng.
9- Muốn lãnh nhận Bí tích giải tội thì phải làm gì? Phải làm 4 việc này: - Xét mình. - Ăn năn dốc lòng chừa. - Xưng tội. - Làm việc đền tội.
10- Xét mình là gì? Là nhìn lại những điều ta đã làm, đã nói, đã nghĩ, xem ta đã sống theo lời Chúa và Hội Thánh dạy như thế nào.
11- Ta dựa vào đâu để xét mình? Ta có thể dựa vào lương tâm mà xét theo lòng yêu mến đối với Thiên Chúa, đối với người khác và đối với chính mình; hoặc xét theo Kinh Cải Tội Bảy Mối, Kinh Mười Điều Răn và Kinh Sáu Điều Răn.
12- Ăn năn dốc lòng chừa là gì? Là thật lòng thống hối vì đã phạm tội mất lòng Chúa và quyết tâm chừa cải.
13- Xưng tội là gì? Là thành tâm thú nhận với linh mục đại diện Chúa Kitô, các tội mình đã phạm.
14- Phải xưng tội thế nào? Phải xưng cách thành thật, rõ ràng, không được giấu một tội trọng nào, vì giấu tội trọng là chưa thật lòng ăn năn, và do đó, không đáng được tha tội nào cả.
15- Người giấu tội trọng thì lần sau phải xưng lại thế nào? Phải xưng rằng mình đã giấu tội, rồi xưng lại những tội đã xưng lần ấy, cách riêng là tội trọng đã giấu, và các tội mới phạm trong thời gian qua.
16- Có khi nào ta được tha tội mà không phải kể các tội ra không? Khi linh mục giải tội tập thể ta không kể các tội ra, nhưng để nêu rõ quyết tâm chừa cải, thì trong lần xưng tội riêng tiếp đó, ta cần nhắc lại các tội trọng đã được tha trong lần giải tội tập thể ấy.
17- Ta phải làm việc đền tội thế nào? Ta phải làm đúng và đủ những việc cha giải tội chỉ định.
18- Việc đền tội có ý nghĩa gì? Việc đền tội nhằm bù đắp phần nào những thiệt hại do tội lỗi gây ra. Việc đền tội cũng cho ta được dịp chung phần đau khổ với Chúa Kitô, và trở nên giống Ngài là Đấng đã đến đền tội thay cho ta.
19- Ngoài việc xưng tội còn có những hình thức sám hối nào không? Ngoài việc xưng tội, Hội Thánh còn nhấn mạnh đến ba hình thức sám hối khác: ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí.
Cốt yếu của Bí tích Giải tội là lòng Chúa xót thương được thể hiện qua Hội Thánh và tâm hồn sám hối của tội nhân.
III- CÁCH THỨC XƯNG TỘI
Khi vào tòa xưng tội, ta nói như sau: Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Amen.
Thưa cha, con là người có tội, xin cha chúc lành và ban phép giải tội cho con. Con xưng tội cách đây … (mấy tuần hay mấy tháng,…) (Thưa cha), con đã … con đã …
Thưa cha, con xin xưng thú hết các tội này cùng các tội khác, những tội quên sót của con.
Sau khi đã xưng thú hết các tội của mình với vị Linh mục, ta lắng nghe vị Linh mục khuyên nhủ và dặn việc đền tội.
Khi vị Linh mục đọc lời giải tội, ta làm dấu thánh giá và thưa như sau:
Linh mục: Vậy cha tha tội cho con, nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Thưa: Amen.
Linh mục: Chúc con đi bình an.
Thưa: Tạ ơn Chúa.